Vay không kỳ hạn có đồng nghĩa với không có hạn trả?

Hải Hà

(Dân trí) - Vì nể nên tôi cho bạn vay hơn một trăm triệu đồng, không lãi và bằng cách trao tay. Tôi không hẹn ngày bạn phải trả tiền, bạn nhắn tin trao đổi hứa khi nào có thì trả.

Hơn 3 năm nay, tôi ốm đau, cần tiền thuốc thang nhắc, đòi nhiều lần bạn tôi không chịu trả. Khi hai bên căng thẳng, tôi truy đòi gắt gao thì bạn trở mặt, nói bằng chứng đâu, nói vay không thời hạn, không ghi hạn trả thì có đến hạn đâu mà đòi. Bạn nói vậy tôi phải làm sao?

Trả lời:

Luật sư Quách Thành Lực, Công ty luật Pháp trị cho biết, khi cho vay, bạn hẳn đã dùng tình mà đối đãi với người vay. Trường hợp người vay ngoảnh mặt, dứt tình nghĩa thì bạn cũng nên dùng lý, pháp luật mà ứng xử cho phù hợp.

Hợp đồng vay tài sản được quy định tại điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định".

Theo quy định trên đây, với hợp đồng vay tài sản hình thức của hợp đồng không phải là điều kiện bắt buộc để giao dịch có hiệu lực. Hai bên có trao đổi thỏa thuận, có hành động giao dịch tài sản, có ghi âm, có tin nhắn là đủ điều kiện để xác định việc vay và cho vay.

Dù là hợp đồng vay không kỳ hạn, không có lãi nhưng điều này không đồng nghĩa với việc không xác định được ngày người vay phải trả nợ. Khoản 1, điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: "Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý ….".

Như vậy, dù không có thời hạn trả nợ nhưng bạn chỉ cần báo cho người vay "Thời gian hợp lý" thì người vay có nghĩa vụ thu xếp tài chính trả khoản vay cho bạn. Thời gian hợp lý chính là mốc xác định thời hạn trả nợ của người vay.

"Thời gian hợp lý" chính xác là bao nhiêu lâu?

"Thời gian hợp lý" được xác định bằng tình trạng tài chính, khả năng trả nợ của những người vay tương tự khác trên địa bàn hai bên vay nợ và khả năng tài chính của người vay.

Trong trường hợp nếu không xác định được điều kiện trên thì "Thời gian hợp lý" sẽ là 03 tháng kể từ ngày thông báo theo quy định tương tự pháp luật tại điểm a, khoản 3 Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

"Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết "thời gian hợp lý" đến thời điểm xét xử sơ thẩm.

"Thời gian hợp lý" quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo";

Như vậy, hợp đồng vay dù không có lãi, không có kỳ hạn trả nhưng người cho vay chỉ cần báo trước cho bên vay 03 tháng yêu cầu trả nợ; khi hết thời hạn 03 tháng thì ngày tiếp theo chính là ngày đến hạn trả nợ vay.