Thứ Bẩy, 04/07/2015 - 10:28

Đề thi và gợi ý đáp án môn Lịch sử THPT quốc gia

(Dân trí) - Sáng nay (4/7), các thí sinh kết thúc môn thi Lịch sử kỳ thi THPT quốc gia. Dân trí cập nhật đề thi chính thức và gợi ý đáp án môn Lịch sử để thí sinh và bạn đọc tham khảo.

Dưới đây là ĐỀ THI môn Lịch sử:
 
*
 

Tiến sĩ Lê Thị Thu Hương – Giảng viên ĐH Thủ đô Hà Nội (Nguyên tổ trưởng tổ Lịch sử - trường THPT Chu Văn An - Hà Nội) đánh giá:

 

Đề hay, phân hóa được học sinh, đảm bảo được mục tiêu xét tốt nghiệp và xét tuyển vào các trường đại học, cao đẳng. Nội dung của đề thi nằm trong chương trình Lịch sử lớp 12, phần Lịch sử Việt Nam có liên hệ gắn với trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay.

 

Đề ra theo đúng hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có nhiều ý gợi mở. Đề không yêu cầu thí sinh ghi nhớ máy móc mà trên cơ sở những sự kiện Lịch sử rút ra những nhận xét theo sự hiểu biết của bản thân thí sinh.

 

Phần Lịch sử thế giới, đề ra vào nội dung kinh tế Nhật Bản từ 1952 đến 1973 và yêu cầu thí sinh nêu nguyên nhân của sự phát triển đó. Nội dung này không yêu cầu học sinh liên hệ vì vậy những học sinh trung bình, học kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa có thể đạt điểm tối đa.

 

Câu 2 với những học sinh trung bình có thể đảm bảo được 2/3 số điểm khi nêu được những công lao của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1930. Đối với học sinh khá có thể làm được ý 2 của câu này.

 

Câu 3 là câu gợi mở, với những học sinh ghi nhớ máy móc thì đây là câu khó nhưng với những học sinh học hiểu, tư duy tốt thì đây là câu hỏi hay, cho phép học sinh nêu suy nghĩ của mình về quyền tự do và độc lập của đất nước cũng như lựa chọn những sự kiện thuộc một trong các giai đoạn lịch sử để làm sáng tỏ quyết tâm của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giữ vững quyền tự do và độc lập (học sinh có thể liên hệ đến cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo hiện nay).

 

Đối với câu 4 yêu cầu học sinh không chỉ thuộc mà còn phải hiểu kiến thức lịch sử, phân biệt được giới tuyến quân sự tạm thời và biên giới quốc gia. Đồng thời học sinh còn phải hiểu được những kiến thức lịch sử ở giai đoạn sau (1954 – 1975), hiểu được âm mưu của Mỹ - Diệm định chia cắt nước ta thành 2 quốc gia trong khi Hiệp định Giơnevơ chỉ quy định đây chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời.

 

Ý 2 của câu này cũng là ý mở yêu cầu học sinh phải phân biệt được những nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ nhân tố chủ quan học sinh có thể chọn một nhân tố cần phát huy trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc ngày nay, đồng thời có gắn với trách nhiệm của thanh niên nói chung và bản thân học sinh nói riêng. Đây là câu hỏi phân loại học sinh giỏi.

 
Mời quý phụ huynh, học sinh và độc giả theo dõi GỢI Ý ĐÁP ÁN:
 

Câu 1.

 

Tóm tắt sự phát triển kinh tế Nhật Bản từ năm 1952 đến năm 1973

 

Là thời kì có bước phát triển nhanh, nhất là từ năm 1960 đến 1973 và thường được gọi là thời kì phát triển “thần kì”.

 

Nhật Bản đã vươn lên và trở thành một trong ba trung tâm kinh tế tài chính của thế giới cùng với Mĩ và Tây Âu.

 

+ Tốc độ tăng trưởng bình quân từ 1960 đến 1969 là 10,8%, từ 1970 đến  1973 tuy có giảm nhưng vẫn đạt 7,8%, cao hơn nhiều so với các nước phát triển khác.

 

+ Năm 1968: kinh tế Nhật đã vượt Anh, Pháp, CHLB Đức, Italia, Canada và vươn lên thứ 2 thế giới tư bản sau Mĩ.

 

+ Từ đầu những năm 70 trở đi, Nhật trở thành một trong ba trung tâm kinh tế tài chính lớn của thế giới (cùng Mĩ và Tây Âu).

 

* Nguyên nhân

 

- Nhật rất coi trọng phát triển KH – KT và luôn đẩy nhanh sự phát triển bằng cách mua bằng phát minh sáng chế,  áp dụng nhanh thành tựu KH – KT, hạ giá thành sản phẩm.

 

- Con người được coi trọng và là vốn quý nhất, nhân tố quyết định hàng đầu.

 

- Vai trò quản lí, lãnh đạo có hiệu quả của Nhà nước.

 

- Các công ty Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lí tốt nên có tiềm lực và sức cạnh tranh cao.

 

- Chi phí  quốc phòng thấp nê có điều kiện tập trung nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế.

 

- Tận dụng tốt yếu tố bên ngoài để phát triển: chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam để bán vũ khí. Những đơn đặt hàng ấy được coi như những ngọn gió thần thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản phát triển.

 

Câu 2

 

1. Công lao của Nguyễn Ái Quốc với cách mạng Việt Nam

 

- Tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, góp phần chấm dứt khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam những năm cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX => đây là công lao đầu tiên và to lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc.

 

- Có công lao trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lê-nin về nước, tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho việc thành lập chính Đảng vô sản ở Việt Nam.

 

- Bước đầu thiết lập mối quan hệ cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

 

- Có vai trò và công lao to lớn trong việc hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng vô sản ở Việt Nam vào năm 1930.

 

- Soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên cho Đảng. Đây là cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

 

2. Những sự kiện chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc bước đầu thiết lập mối quan hệ cách mạng Việt Nam và PTGPDT trên thế giới

 

- Tháng 12 – 1920: Dự Đại hội XVIII của Đảng Xã hội Pháp, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp.

 

- Từ 1921 – 1923: Tham gia thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, là chủ nhiệm, kiêm chủ bút báo Người cùng khổ; viết bài cho các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân…

 

- Từ 1923 – 1924: Dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và Đại hội V của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô; viết bài cho tạp chí Thư tín Quốc tế và báo Sự thật.

 

- 1924 – 1927: Tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông; thành lập nhóm Cộng sản đoàn, sáng lập Hội VNCMTN.

 

Câu 3

 

1. Suy nghĩ của anh/chị về khẳng định “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập”. Học sinh cần nêu được các ý sau:

 

- Khẳng định quyền của dân tộc Việt Nam sánh ngang với tất cả các dân tộc khác trên giới.

 

- Thể hiện quyết tâm, lời thề giữ vững độc lập và tự do của dân tộc Việt Nam. Đấy cũng chính là góp phần vào bảo vệ “nguyên tắc dân tộc bình đẳng” của nhân loại tiến bộ.

 

2. Sự kiện chọn lọc thuộc một trong các thời kì 1945 – 1954, 1954 – 1975 để làm sáng tỏ quyết tâm của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giữ vững quyền tự do và độc lập.

 

Học sinh có thể chọn 1 sự kiện bất kì nằm trong 2 giai đoạn trên nhưng cần có lập luận và dẫn chứng, lí lẽ rõ ràng.

 

Gợi ý: sự kiện 19/12/1946 => Sau 1 thời gian đấu tranh ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cương quyết để giữ vững nền độc lập vừa giành được sau CMT8 nhưng thực dân Pháp quyết tâm cướp nước ta, xé bỏ Hiệp định sơ bộ và Tạm ước, kiến quyết xâm lược thì chúng ta đã kiên quyết đứng lên đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do bằng sự kiện mở màn là Ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946).

 

Câu 4

 

1. Nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ có ghi:

 

- Thứ nhất: “Ở Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội viễn chinh Pháp tập kết ở hai miền Nam – Bắc, lấy vĩ tuyến 17 (dọc theo sông Bến Hải – Quảng Trị) làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến”

 

Đồng thời cũng có ghi

 

“Việt Nam tiến tới thống nhất bằng cuộc tổng quyển cử tự do trong cả nước sẽ được tổ chức vào tháng 7 – 1956 dưới sự kiểm soát và giám sát của một Ủy ban quốc tế (gồm Ấn Độ làm Chủ tịch cùng hai thành viên là Ba Lan và Ca-na-đa)

 

=> Như vậy, Hiệp định Giơ-ne-vơ không trực tiếp chia Việt Nam thành hai quốc gia với đường biên giới là vĩ tuyến 17 mà chỉ có 1 số điều khoản từ đó Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm lợi dụng để tự chia cắt và thiết lập quốc gia mới ở miền Nam Việt Nam mà thôi.

 

2. Đây là ý mở, học sinh có thể tùy chọn 1 trong các gợi ý sau nhưng cần có dẫn chứng và lập luận rõ ràng:

 

- Kiên quyết giữ vững và bảo vệ  độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Kiên quyết đấu trạnh nếu có bất cứ hành động đe dọa nào từ các thế lực bên ngoài.

 

- Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc thông qua các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất.

 

- Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng…

….

 

* Thanh niên cần làm gì để góp phần củng cố và phát triển nhân tố đó?

 

- Lập luận rõ ràng, bám sát vào vai trò và sứ mệnh của thế hệ trẻ đối với quốc gia, dân tộc:  sẵn sàng sống, chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc cần.

 
Nguồn: Ban chuyên môn Hocmai.vn